các phương pháp giảm đau sau mổ

Tuy nhiên, các bệnh nhân tại Vinmec sẽ không phải đối mặt với những cơn đau như thế. Vậy cách giảm đau sau phẫu thuật ở Vinmec có gì đặc biệt? 1. Phương pháp giảm đau đột phá trong phẫu thuật tim hở. Mổ tim hở là phẫu thuật can thiệp nhằm giải quyết các vấn đề Để giảm đau kéo dài vài giờ, bác sĩ sẽ tiêm một mũi tiêm để gây tê đám rối thần kinh. Để kiểm soát cơn đau lâu hơn sẽ cần một đường truyền để truyền thuốc liên tục. 3.6. Giảm đau sau mổ bằng thuốc tiêm vào ổ khớp. Phương pháp này được thực hiện cuối Cách giảm đau sau khi sinh mổ bằng mẹo dân gian. Ngoài những cách giảm đau sau khi sinh mổ kể trên, bạn cũng có thể tham khảo thêm phương pháp giảm đau theo dân gian bằng việc sử dụng các loại thảo dược tự nhiên tại nhà như gừng, mật ong, gel lô hội… Đây đều là những Exemple De Message Pour Site De Rencontre. 1. Mục tiêu của điều trị đau sau mổ – Đau sau mổ là kinh nghiệm thường gặp đối với bệnh nhân khoa ngoại • Do chấn thương mô • Đau không được giải quyết dẫn đến sự đau đớn, lo âu, sợ hãi, tức giận và trầm uất không cần thiết • Đau có các hiệu ứng thể xác co mạch, tăng tải lượng tim, co cứng cơ, sợ hãi. – Các yếu tố tiên đoán trước mổ cho đau sau mổ từ trung bình đến nặng trên bệnh nhân phẫu thuật bụng ASA III OR tỉ số odd 1,99 Bệnh nhân trẻ tuổi OR 4,72 Đau trước mổ từ trung bình đến nặng OR 2,96 Tình trạng hay lo âu OR 1,74 Khí sắc trầm cảm OR 2,00 – Hậu quả của đau bao gồm Tăng dị hóa Kháng insulin Co mạch Nhịp tim nhanh Xẹp phổi Kích động Suy giảm nhận thức Lo âu Huyết khối tĩnh mạch Kém hồi phục chức năng – Đau sau mổ kết hợp với tăng thời gian nằm viện, chậm vận động đi lại và suy giảm cơ năng dài hạn. Những thách thức của điều trị đau sau mổ cấp tính Ảnh hưởng trên bệnh nhân Đau nhiều sẽ tăng nguy cơ đau mạn tính cho bệnh nhân, chậm lành vết mổ, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổ. Bệnh nhân có thể bị thiếu máu cục bộ tim hoặc liệt ruột do sự kích hoạt giao cảm trong quá trình đau gây ra. Ảnh hưởng trên bệnh viện Điều trị đau sau mổ cấp tính bệnh nhân thường phải nằm viện kéo dài, chi phí điều trị cao, bệnh nhân dễ không hài lòng, từ đó có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của bệnh viện. Xem thêm Tổng quan về chẩn đoán và điều trị đau 2. Những nguyên tắc chính của điều trị đau sau mổ Để bệnh nhân tham gia vào kế hoạch điều trị đau đối với họ Phát hiện sớm và điều trị đau có kế hoạch Sử dụng giảm đau đa mô thức Giảm đau đa mô thức là kiểm soát đau sau mổ một cách hữu hiệu phụ thuộc vào việc sử dụng nhiều thuốc giảm đau và đường dùng khác nhau để có tác dụng hiệp lực. Ưu điểm của phương pháp này là giúp cải thiện việc giảm đau, giảm tỷ lệ tác dụng phụ trên bệnh nhân và đặc biệt là phương pháp này tác động trên tăng cảm đau Một ví dụ về giảm đau đa mô thức là kết hợp dùng Morphin và KVKS acetaminophen, phong bế thần kinh trong điều trị đau sau mổ cấp tính. Khi sử dụng ta giảm liều mỗi thuốc giảm đau, cảm giác đau sẽ giảm đi nhờ tác dụng hiệp lực của 2 thuốc đồng thời giúp giảm tác dụng phụ của mỗi thuốc. Có rất nhiều nghiên cứu về giảm đau đa mô thức Tác dụng của acetaminophen trên tác dụng phụ và mức tiêu thụ morphin sau đại phẫu tổng phân tích các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng của C. Remy, E. Marret, và F. Bonnet năm 2005 So sánh mù đôi, đối chứng giả dược giữa tramadol/acetaminophen và tramadol trên bệnh nhân đau răng sau mổ của Fricke Jr JR và cs. Pain 2004 Giảm đau đa mô thức với acetaminophen, thuốc kháng viêm không steroid, hoặc thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 và giảm đau morphin do bệnh nhân kiểm soát có đem lại lợi ích hơn morphin đơn độc? của Nadia milia và cộng sự. Dexamethasone trước mổ cải thiện kết cục phẫu thuật sau mổ cắt bỏ túi mật qua nội soi thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược của BS. Thue Bisgaard Tổng phân tích về lidocain tĩnh mạch và sự hồi phục sau phẫu thuật bụng của E. Marret và cộng sự Lidocain dùng đường toàn thân chu phẫu để giảm đau sau mổ và sự hồi phục sau phẫu thuật bụng Tổng phân tích các nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng của Yanxia Sun và cộng sự. Nghiên cứu nghiên cứu tiền cứu về tác dụng giảm đau của nefopam sau phẫu thuật chỉnh hình của B. Du Manoir và cộng sự. Hiệu quả giảm đau và tính an toàn của nefopam so với propacetamol sau mổ cắt gan Mimoz O, Incagnoli P, Josse C, và cs. Anesthesia 2001 Lập hồ sơ đau của bệnh nhân và lộ trình điều trị Xem thêm Vấn đề điều trị đau Chuẩn bị cho bệnh nhân xuất viện 3. Các hướng dẫn và phác đồ khuyến nghị của SFAR người lớn • Cải thiện điều trị đau sau mổ không nên kê đơn thuốc “theo yêu cầu”. Đơn thuốc phải chuẩn hóa, được viết sẵn và nên bao gồm phác đồ điều trị. • Paracetamol acetaminophen Không khuyến nghị rằng chỉ paracetamol mới có thể phối hợp với morphin sau cuộc mổ gây đau nhiều. • Thuốc KVKS và thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase týp 2 coxib Nên phối hợp KVKS với morphin khi không có chống chỉ định • Nefopam Nefopam thường được khuyên dùng phối hợp với các dẫn chất morphin sau cuộc mổ gây đau từ trung bình đến nặng. Xem thêm Ngộ độc cấp Paracetamol Khuyến nghị ASA Hướng dẫn thực hành về điều trị đau cấp tính trong bối cảnh sau mổ Hướng dẫn của Pháp về tăng bình phục sau phẫu thuật đại – trực tràng 4. Tăng cảm đau và đau mạn tính sau mổ Đau mạn tính sau mổ Để được phân loại là đau mạn tính sau mổ, phải thỏa mãn các tiêu chí sau – Đau xuất hiện sau một phẫu thuật. – Thời gian đau kéo dài ít nhất 2 tháng. – Đã loại trừ những nguyên nhân khác gây đau ví dụ bệnh ác tính tiếp diễn hoặc viêm mạn tính. Xem thêm Đau thần kinh mạn tính Sự tiến triển đến tăng cảm đau và đau mạn tính hiểu biết và đề phòng Dưới đây là toàn văn “Điều trị đau sau mổ” của Hội gây mê hồi sức Việt Nam. Xem thêm Ảnh hưởng của NSAIDs trên bệnh nhân lớn tuổi Nguồn Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam Lượt xem Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Đức Thông - Bác sĩ Gây mê hồi sức - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Điều trị giảm đau sau mổ là điều cần thiết đối với mỗi bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật. Bác sĩ sẽ dựa vào các điều kiện của người bệnh để đưa ra phác đồ điều trị giảm đau sau mổ hiệu quả nhất bằng cách lựa chọn các phương pháp như Sử dụng thuốc giảm đau hoặc gây tê vùng cho bệnh nhân. 1. Vì sao phải điều trị giảm đau sau mổ? Đau sau mổ là điều làm nhiều người bệnh lo sợ từ trước khi thực hiện phẫu thuật, là vấn đề ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh trước và sau phẫu thuật. Nó có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan như hô hấp, tuần hoàn, nội tiết, gây ức chế hệ miễn dịch của cơ thể con điều trị giảm đau sau phẫu thuật không chỉ là việc giúp bệnh nhân giảm bớt những đau đớn trên cơ thể sau khi trải qua một buổi phẫu thuật mà còn liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp, bác sĩ không thể thờ ơ trước việc bệnh nhân có biểu hiện đau đớn và phải tìm ra phương pháp giúp đỡ người người bệnh không được điều trị giảm đau sau mổ sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Nếu đau chuyển sang đau mạn tính thì người bệnh sẽ phải chịu những cơn đau dai dẵng kéo dài làm giảm chất lượng sống. Vì vậy, việc giảm đau sau phẫu thuật là điều cần thiết và quan trọng trong điều trị cứu chữa người đau sau phẫu thuật sẽ giúp bệnh nhân vận động sớm sau mổ, giúp nhanh chóng hồi phục, giảm thiểu được thời gian nằm viện và giảm chi phí điều trị bệnh. Bệnh nhân có thể nhanh chóng trở lại cuộc sống sinh hoạt ngày thường, đảm bảo chất lượng lao động và cuộc sống sau khi hồi phục của người bệnh. Đau sau phẫu thuật gây ức chế hệ miễn dịch của cơ thể 2. Đánh giá các mức độ đau sau phẫu thuật Không phải bệnh nhân nào cũng cảm thấy đau đớn sau mỗi cuộc phẫu thuật, tùy vào từng tình huống khác nhau, mức độ đau của mỗi người cũng sẽ khác nhau. Việc đánh giá được mức độ đau của bệnh nhân sẽ phần nào giúp bác sĩ đưa ra được phác đồ điều trị giảm đau sau mổ hiệu quả nhất đối với bệnh độ đau của mỗi bệnh nhân có thể thay đổi theo vị trí như phẫu thuật ngực và bụng trên đau hơn phẫu thuật bụng dưới, các phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt được đánh giá là ít gây đau đớn nhất so với hai loại ra, mức độ đau sau phẫu thuật còn tùy thuộc vào cơ địa, sức chịu đựng, yếu tố tâm lý của mỗi bệnh nhân 15% bệnh nhân cảm thấy không đau hoặc đau ít sau mỗi cuộc phẫu thuật, 15% bệnh nhân khác sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn sau mỗi cuộc phẫu thuật tương đánh giá mức độ đau đớn, bác sĩ thường sử dụng các dụng cụ như Thước EVA hoặc dùng thang điểm số để nhận biết mức độ đau. Thước EVA được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá mức độ đau đớn 3. Các biến chứng sau phẫu thuật do quá đau đớn Đau đớn sau phẫu thuật nếu không được điều trị giảm đau kịp thời sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí là tử vong. Đau đớn sau phẫu thuật gây ra các rối loạn ở nhiều cơ quan khác nhau như sauTim mạch Co mạch hệ thống hoặc co mạch vành, tăng huyết áp, dễ gây nhồi máu cơ tim hô hấp Hạn chế hô hấp làm tăng nguy cơ xẹp phổi, giảm thể tích phổi, viêm tiêu hóa Giảm thời gian làm rỗng dạ dày, giảm nhu động ruột. Bệnh nhân dễ chán ăn, có thể liệt ruột hoặc bị táo nội tiết Thay đổi phóng thích nhiều hormone, tăng đường huyết, giảm trọng lượng, tiêu cơ, hệ miễn dịch của người bệnh suy giảm và vết thương do phẫu thuật khó lành hơn. Đau sau phẫu thuật ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giấc ngủ Hệ cơ xương khớp Co thắt cơ, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của người bệnh, yếu cơ và gây mệt mỏi kéo dài cho người sinh lý Đau đớn kéo dài cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của người bệnh. Họ luôn cảm thấy lo lắng, sợ hãi cơn đau, rối loạn giấc ngủ và gặp phải các hội chứng rối loạn sau chấn bài tiết Đau đớn gây giảm trương lực bàng quang và niệu đạo có thể dẫn đến bí tiểu. 4. Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật Điều trị giảm đau sau mổ là điều cần thiết phải thực hiện sau hầu hết các ca phẫu thuật. Tuy nhiên tùy vào mức độ đau của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị giảm đau sau mổ phù hợp nhất. Điều trị giảm đau sau phẫu thuật bằng đường uống Sau khi phẫu thuật xong, đối với những phẫu thuật nhỏ, ít đau, bác sĩ thường chỉ định sử dụng các thuốc giảm đau đường uống. Thuốc giảm đau đường uống được sử dụng đối với bệnh nhân phẫu thuật có thể ra về trong ngày hoặc ưu tiên sử dụng đối với bệnh nhân phục hồi nhu động giảm đau được sử dụng phổ biến nhất là paracetamol – thuốc có tác dụng giảm đau, hạ sốt, có thể sử dụng được cho mọi lứa tuổi. Các dòng thuốc giảm đau chống viêm không steroid sử dụng nhiều trong các phẫu thuật răng hàm mặt, phẫu thuật xương, phẫu thuật sản khoa. Các thuốc này có tác dụng giảm đau, chống sưng nề vết mổ nên thường đươc sử dụng rộng rãi sau mổ. Tuy nhiên, các thuốc giảm đau kháng viêm thường có tác dụng phụ gây viêm loét dạ dày, một số thuốc bị chống chỉ định trên bệnh nhân mắc bệnh tim mạch và trẻ em dưới 12 tuổi. Vì vậy, cần cân nhắc giữa lợi và hại trước khi sử dẫn chất có tác dụng giảm đau trung ương thường được phối hợp với paracetamol để tăng tác dụng giảm đau như codein, cafein, tramadol. Ngoài ra, Morphin đường uống chậm cũng là một trong những thuốc giảm đau thường được sử dụng trong điều trị giảm đau sau mổ. Điều trị giảm đau sau phẫu thuật sử dụng thuốc ngoài đường uống Giảm đau sau mổ sử dụng thuốc ngoài đường uống thông qua đường tĩnh mạch đối với các thuốc giảm đau không thuộc họ morphin như paracetamol và thuốc giảm đau kháng viêm không chứa steroid NSAID, có thể kết hợp sử dụng morphin trong trường hợp đau dụng các thuốc thuộc họ morphin Morphin, Fentanyl, Sufentanil, Remifentanyl đường truyền tĩnh mạch sử dụng kỹ thuật giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát PCA, liều lượng thuốc được truyền đều đặn để đảm bảo giảm đau hoàn toàn, liên tục, người bệnh có thể tự bấm nút để bơm thêm một lượng thuốc đã được cài đặt sẵn để giảm đau ngay lúc thấy đau tăng lên. Phương pháp tiêm thuốc giảm đau vào bắp của bệnh nhân hiện không còn được khuyến khích sử dụng nữa vì gây đau và khối máu tụ sau tiêm cho bệnh nhân. Thuốc họ morphin bằng đường dưới da giúp điều trị giảm đau sau phẫu thuật Giảm đau bằng cách gây tê ngoài màng cứng Giảm đau bằng cách gây tê đám rối thần kinh, gây tê thân thần kinh, tê thần kinh ngoại vi như tê đám rối thần kinh cánh tay, tê thần kinh quay, thần kinh trụ, thần kinh ngồi, thần kinh đùi, thần kinh chày, thần kinh thẹn... Còn có các kỹ thuật gây tê vùng phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao như tê mặt phẳng cơ dựng sống để giảm đau trong các phẫu thuật vùng ngực, kể cả mổ tim hở, tê cơ thắt lưng chậu giảm đau vùng bụng dưới, tê cơ vuông thắt lưng giảm đau sau mổ đẻ và mổ vùng bụng dưới.... Gây tê vùng được thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm và máy dò thần kinh đảm bảo chính xác, an toàn và hiệu quả Phương pháp gây tê ngoài màng cứng ngày càng được nhiều bác sĩ lựa chọn để điều trị giảm đau sau mổ cho bệnh nhân. Bằng cách lưu catheter ngoài màng cứng 48 đến 72 giờ, bác sĩ có thể truyền thuốc tê liên tục để giảm đau sau mổ kéo dài. Phương pháp này giảm đau hiệu quả hơn các phương pháp nêu trên, đặc biệt khi bệnh nhân ho, di chuyển hay vận động đều không gây đau đớn. Việc sử dụng các thuốc họ morphin để truyền ngoài màng cứng có thể gây tác dụng phụ như ngứa, buồn nôn, bí các phương pháp giảm đau trên, một số phương pháp khác cũng được bác sĩ sử dụng để điều trị giảm đau sau mổ cho bệnh nhân như dùng thuốc giảm đau đặt hậu môn, thuốc dán trên da, tiêm thuốc tê vào ổ khớp, đặt catheter truyền thuốc tê vào vết mổ ngay trước khi đóng vết mổ ... Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Thuốc Agichymo điều trị bệnh gì? Tìm hiểu về thuốc Nevanac Làm thế nào để hạn chế Đau chi ma - cơn đau ảo? Dịch vụ từ Vinmec Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Hồ Quốc Tuấn - Bác Sĩ Gây mê hồi sức - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang. Bác sĩ Quốc Tuấn đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Gây mê - hồi sức. Giảm đau sau phẫu thuật bao gồm nhiều phương pháp khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc giúp bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt hơn, sớm hồi phục sau mổ. Đau sau phẫu thuật là phản ứng đau do tổ chức bị phẫu thuật can thiệp và xuất hiện sau khi mổ. Mức độ đau sau mổ phụ thuộc vào tính chất và mức độ phẫu thuật, kỹ thuật mổ và khả năng chịu đựng của bệnh nhân. Thông thường, các phẫu thuật can thiệp bằng nội soi thường đau ít hay thậm chí là không đau. Trong những trường hợp phẫu thuật nặng hơn thường đau liên tục trong vài ngày đầu. Ngoài ra, mức độ đau sau phẫu thuật còn phụ thuộc vào các yếu tố sauVị trí phẫu thuật Phẫu thuật ngực và bụng trên > phẫu thuật bụng dưới > phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt. Thời gian đau của các vị trí cũng khác nhau, đó là phẫu thuật ngực 4 ngày, phẫu thuật bụng trên 3 ngày, phẫu thuật bụng dưới 2 ngày, phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt 1 ngày;Từng bệnh nhân 15% bệnh nhân không đau hoặc đau rất ít, 15% bệnh nhân đau nhiều và điều trị giảm đau thường không đủ để giúp bệnh nhân dễ chịu sau mổ làm hạn chế vận động của bệnh nhân, làm tăng nguy cơ máu tụ, tắc mạch và ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc chăm sóc vết thương cũng như tập hồi phục chức năng sau phẫu thuật. 2. Các phương pháp đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật Dùng thước EVA Echelle visuelle Analogue Là loại thước có 2 mặt, chiều dài 10cm, được đóng kín ở 2 đầu. Ở mặt không có số, một đầu ghi “không đau”, một đầu ghi “đau không chịu nổi”, trên thước có con trỏ có thể di chuyển được để chỉ mức độ đau mà bệnh nhân cảm nhận được. Mặt còn lại có chia vạch là 0 - 100, đầu 0 tương ứng với “không đau”, đầu 100 tương ứng với “đau không chịu nổi”. Đây là dụng cụ đơn giản nhất để đánh giá mức độ đau. Bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc giảm đau khi giá trị đau từ 30 trở lên;Dùng thang điểm số Bệnh nhân tự nêu một số tương ứng với mức độ đau mà họ cảm nhận, con số trong khoảng 0 - 100. Số 0 là bệnh nhân không đau, số 100 là bệnh nhân đau không chịu nổi;Dùng thang chia mức độ Thang có các giá trị là 0 - không đau, mức 1 - đau mức độ ít, mức 2 - đau mức độ trung bình và mức 3 - đau mức độ nhiều. Phương pháp đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật bằng thước EVA Echelle visuelle Analogue 3. Vai trò của giảm đau sau phẫu thuật Giảm đau sau phẫu thuật là một biện pháp điều trị mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân nhưGiúp bệnh nhân dễ chịu về thể xác và tinh thần;Giúp người bệnh lấy lại trạng thái cân bằng tâm - sinh lý;Nâng cao chất lượng điều trị Giúp vết thương chóng lành, giảm nguy cơ bội nhiễm vết thương sau mổ, vận động sớm hơn, giảm nguy cơ tắc mạch, rút ngắn thời gian nằm viện;Giúp bệnh nhân sớm hồi phục sau mổ, có thể tự chăm sóc bản thân;Người bệnh sớm tập phục hồi chức năng;Tránh diễn tiến thành đau mạn tính;Mang ý nghĩa nhân đạo. 4. Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật Lựa chọn kỹ thuật giảm đau sau mổ phụ thuộc vào mức độ đau, vị trí đau, đau khi nghỉ ngơi hay khi vận động, tiền sử bệnh nhân, thời điểm tập phục hồi chức năng,... Các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật thường được áp dụng làĐường uống Dùng thuốc giảm đau không thuộc họ morphine. Ưu tiên dùng thuốc khi phục hồi nhu động ruột, thường sử dụng cho bệnh nhân phẫu thuật về trong ngày. Bệnh nhân có thể sử dụng paracetamol, kháng viêm không steroid NSAID - tốt hơn paracetamol trong phẫu thuật hàm mặt, xương khớp, sản khoa nhưng có nhiều tác dụng phụ, kết hợp paracetamol và NSAID,... Việc sử dụng thuốc phải tuân thủ đúng theo chỉ định của bác sĩ;Dùng thuốc ngoài đường uống Đường tĩnh mạch dùng các thuốc giảm đau không thuộc họ morphine gồm paracetamol và NSAID; đường dưới da dùng các thuốc thuộc họ morphine và đường tiêm bắp nên bỏ vì gây đau sau khi tiêm và gây khối máu tụ sau tiêm do dùng thuốc chống đông sau mổ. Liều lượng thuốc, loại thuốc, đường dùng và thời gian dùng thuốc cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ;Bơm thuốc qua catheter ngoài màng cứng Có tác dụng giảm đau tốt hơn dùng đường tĩnh mạch và đường dưới da. Có thể chỉ sử dụng morphine hoặc kết hợp thuốc thuộc họ morphine tan nhiều trong mỡ với thuốc tê và/hoặc clonidine. Loại thuốc và liều dùng phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ cho từng trường hợp cụ thể;Đặt catheter gây tê đám rối thần kinh hoặc thân thần kinh Áp dụng ở chi, thường đặt catheter bơm thuốc lặp lại hoặc truyền liên tục để kéo dài thời gian giảm đau sau mổ;Tiêm thuốc vào ổ khớp Thực hiện cuối phẫu thuật nội soi khớp gối hay khớp vai, sau khi đã hút khô dịch;Dùng thuốc đường hậu môn Loại thuốc và liều dùng tuân thủ đúng chỉ định của bác cả các phương pháp giảm đau đều có ưu điểm và hạn chế. Bác sĩ cần cân nhắc lựa chọn phương pháp giảm đau sau phẫu thuật phù hợp cho bệnh nhân. 5. Chương trình giảm đau sau phẫu thuật ERAS tại Vinmec Times City Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City triển khai chương trình tăng cường phục hồi sớm sau phẫu thuật ERAS Enhanced Recovery After Surgery. ERAS là các phương pháp chăm sóc bệnh nhân trước, trong và sau phẫu thuật với sự phối hợp của nhiều chuyên khoa như Gây mê hồi sức, Dinh dưỡng, Phục hồi chức năng, Dược lâm sàng Phẫu thuật, Chăm sóc điều dưỡng,... nhằm giúp người bệnh sớm phục hồi sức khỏe sau mổ. Mục tiêu của ERAS là chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân nhằm giảm thời gian nằm viện, nâng cao chất lượng điều trị, giảm chi phí và giảm tỷ lệ biến chứng cho bệnh nhân. Thực tế, ERAS giúp giảm 30% thời gian chăm sóc, giảm tới 50% biến chứng sau phẫu thuật cho bệnh nhân. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City áp dụng ERAS- là các phương pháp chăm sóc bệnh nhân trước, trong và sau phẫu thuật Các kỹ thuật giảm đau sau phẫu thuật tại Vinmec Times City gồmPhẫu thuật tim hở Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP dưới hướng dẫn của siêu âm. Với phương pháp này, bác sĩ thực hiện luồn một catheter vào dưới dựng sống bên cạnh cột sống sau lưng nhằm ức chế tín hiệu đau trước khi nó truyền tới cột sống. Đây là kỹ thuật giảm đau hậu phẫu hiện đại, không biến chứng, rút ngắn thời gian hồi sức tích cực, loại bỏ nguy cơ gây đau sau mổ và đau mãn tính đối với 96% bệnh nhân được chỉ định thực hiện mổ tim hở;Sinh mổ Sản phụ sau sinh mổ được gây tê thần kinh bằng máy siêu âm để đẩy lùi những cơn đau, từ đó không cần phải sử dụng morphine để giảm đau ngay cả khi vận động và thực hiện các công việc như chăm sóc bé, vệ sinh cơ thể,... Bên cạnh đó, khi tác dụng của thuốc tê trong lúc mổ giảm dần, bác sĩ sẽ tiếp tục gây tê cơ vuông thắt lưng ở 2 bên để ngăn chặn đường đi của tín hiệu đau trước khi đến tủy sống và lên não, từ đó giảm những cơn đau sau mổ cho sản phụ. Ngoài ra, Vinmec còn triển khai phương pháp gây tê thần kinh thẹn sau khi sinh với gây tê ngoài màng cứng. Với các phương pháp này, sản phụ nhanh chóng hồi phục sức khỏe sau phẫu thuật, nhu động ruột sớm trở lại bình thường và giảm nguy cơ bị đau mãn tính sau mổ;Phẫu thuật ung thư Bệnh viện Vinmec Times City triển khai phương pháp phẫu thuật nội soi bằng robot ít gây đau do hạn chế sang chấn, có tính thẩm mỹ cao, giảm nhu cầu dùng thuốc giảm đau sau phẫu thuật, rút ngắn thời gian nằm viện, giúp bệnh nhân có tâm lý thoải mái trình Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật tại Vinmec Times City sẽ được nhân viên y tế tư vấn cụ thể cho bệnh nhân trước phẫu thuật để họ an tâm tham gia vào quá trình điều trị và chăm sóc hậu phẫu. Người bệnh được tối ưu dinh dưỡng, áp dụng phác đồ gây mê - giảm đau chuẩn để phục hồi sức khỏe nhanh hơn. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Vinmec báo cáo kinh nghiệm áp dụng chương trình Chăm sóc phục hồi sớm sau phẫu thuật mổ đại trực tràng tại Hội thảo ERAS châu Á lần 1 Đau và điều trị đau sau mổ Những điều cần biết Vinmec và Hội đồng Gây tê Vùng Châu Á tổ chức Hội thảo Quốc tế về Gây tê vùng đầu tiên tại Việt Nam Dịch vụ từ Vinmec KHÁI NIỆM Giảm đau là một thành phần thiết yếu trong chăm sóc bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật, thúc đẩy sự hồi phục sau mổ và làm thay đổi cảm giác, cảm xúc khó chịu, khó ngủ, lo âu, trầm cảm, liên quan đến các tổn thương của mô, thực thể hoặc tiềm ẩn. Đối với mỗi bệnh nhân khác nhau, mức độ đau khác nhau mang tính chất cá nhân, sau mổ thường có những cơn đau cấp trong những ngày đầu và có thể chuyển tiếp thành những cơn đau mãn tính kéo dài. CƠ CHẾ ĐAU Về cơ bản, có hai cơ chế chính dẫn đến cơn đau của bệnh nhân, bao gồm kích thích thụ cảm thể đau, phần lớn liên quan đến viêm, và sự tổn thương tế bào thần kinh ở ngoại biên hoặc trung ương. Ở cơ chế thứ nhất, đau do kích thích nociceptive pain, các thao tác xâm lấn gây tổn thương mô tại vị trí mổ dẫn đến sự phóng thích các chất trung gian hóa học gây đau kinin, histamin, prostaglandin…, các chất này kích thích vào thụ thể đau nociceptor ở đầu tận cùng các dây thần kinh ở các mô đáp ứng. Các tín hiệu này truyền dọc theo sợi C chậm và sợi A-d đến sừng sau tủy sống. Tín hiệu đau sau đó truyền lên đồi thị và võ não. Tại vỏ não, các xung động dẫn truyền cảm giác được xử lý và lưu lại như các trải nghiệm. Trong quá trình tín hiệu đau dẫn truyền từ vỏ não ra ngoại biên trên đường li tâm, các tín hiệu có thể bị suy giảm và ức chế một phần bởi các opioid nội sinh các enkephalin và b-endorphin, g-aminobutyric acid GABA, norepinephrin hoặc serotonin. Sự phong tỏa thụ thể N-methyl-D-aspartat NMDA receptor cũng góp phần làm tăng đáp ứng của các thuốc giảm đau trung ương trên thụ thể m [2, 3]. Ở cơ chế thứ hai, đau sau mổ cũng có thể xảy ra sau các tổn thương dọc theo sợi dẫn truyền cũng như rối loạn cơ chế điều chỉnh cảm giác đau ở thần kinh trung ương. Có thể bị cả chèn ép, tì đè làm nghẽn dẫn truyền của các sợi trục thần kinh. Trường hợp này gọi là đau theo cơ chế thần kinh neuropathic pain. Rất nhiều chất dẫn truyền thần kinh và các chất khác, ví dụ như các cytokin IL-6, IL-8, IL-2β, tham gia vào cơ chế này. Ngoài ra, bệnh nhân sau mổ có thể than phiền đau, nhưng là dạng đau do căn nguyên tâm lý psychogenic pain. Những trường hợp này thường mang yếu tố ám ảnh nhiều hơn cơn đau thực sự với những triệu chứng không điển hình. Bệnh nhân mô tả cơn đau kéo dài dường như không bao giờ chấm dứt mà không thể mô tả rõ ràng. ĐIỀU TRỊ Công tác điều trị đau rất đa dạng nhưng lựa chọn phương pháp giảm đau cần phải cân nhắc dựa trên mức độ đau của bệnh nhân sau mổ, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và những bệnh lý kèm theo để chọn được phương pháp điều trị đau sau mổ phù hợp nhất. Các cơn đau do cơ chế kích thích thụ cảm đau thường đáp ứng tốt với các thuốc giảm đau kháng viêm non-steroid NSAIDs và các opioid từ yếu đến mạnh. Tuy nhiên các cơn đau do thần kinh hoặc tâm lý đòi hỏi các cơ chế giảm đau đặc thù hơn và thậm chí là các liệu pháp về tâm lý. Giảm đau sau mổ được khuyến cáo phối hợp các nhóm thuốc có cơ chế tác động khác nhau, gọi là giảm đau đa mô thức multimodal pain management, hay multimodal analgesia. Việc phối hợp giúp đạt hiệu quả giảm đau cao hơn, đồng thời giảm các tác dụng có hại so với dùng liều cao một thuốc giảm đau đơn lẻ. Bốn nhóm chính trong điều trị giảm đau, gồm Các thuốc opioid mạnh morphin, pethidin, fentanylCác thuốc opioid yếu tramadol, codeinCác thuốc giảm đau không opioid paracetamol, NSAIDs chọn lọc và không chọn lọcCác thuốc giảm đau phụ pregabalin, gabapentin, ketamin, clonidin. Hướng dẫn phối hợp tham khảo trong giảm đau sau mổNguồn Phác đồ Ngoại khoa BV Chợ Rẫy 2018, trang 1067-1068 Trường hợpTrước phẫu thuậtTrong phẫu thuậtSau phẫu thuậtPhẫu thuật đau ítLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; – Ibuprofen PO 200-400mg – Diclofenac PO 50-100mg Gây tê vết mổ trước rạch da – Lidocain 1%, 10-20ml – Bupivacain 0,25-0,125%, 5-10ml– Hậu phẫu ngày 1 thuốc giảm đau PO dùng liều ngắt quãng Metamizon 500mg và/hoặc paracetamol 0,5-1g phối hợp với 1 trong các NSAID Ketoprofen 50mg/6-8h; Diclofenac 50mg/8h; Ibuprofen 400mg/8h và Meloxicam 7,5-15mg/ đau trung bìnhLựa chọn một – Gabapentin 600mg 1 viên/uống 4h trước phẫu thuật – Pregabalin 50-75 mg 1 viên/ uống 1h trước phẫu thuật Phối hợp cùng một – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước khởi mê – Ketamin 50mg bolus IV trước khởi mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg – Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kgPT đau nhiềuLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; Uống – Ibuprofen 200-400mg – Diclofenac 50-100mg Phối hợp với – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước gây mê – Ketamin 50mg bolus trước gây mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg– Paracetamol + opioid + NSAID – Lidocain 0,5-1mg/kg/h – PCA – Giảm đau ngoài màng cứng liên tục với PCEA áp dụng đối với phẫu thuật theo chương trình KẾT LUẬN Giảm đau sau mổ là sự cần thiết trong công tác chăm sóc và điều trị đối với bệnh nhân bao gồm công tác tư vấn, chuẩn bị, lên kế hoạch thực hiện các thuốc giảm đau hợp lý. Hiện nay, giảm đau đa mô thức đang dần chứng minh cho hiệu quả lâm sàng cải thiện đau tốt. Phát triển mô hình tiếp cận giảm đau là giải pháp tốt trong công tác điều trị trong lâm sàng. Ngoài ra, còn nhiều phương pháp giảm đau có thể kết hợp như Đông Tây Y, vật lý trị liệu,… Việc sử dụng phương pháp giảm đau đa mô thức sẽ giúp bệnh nhân mau lành vết thương, giảm thời gian điều trị, giảm chi phí và tối ưu hóa quá trình phục hồi. Bs Nguyễn Thanh Lương- Khoa Gây mê hồi sức- Bệnh viện 1A. Khi sinh thường thì cơn đau chuyển dạ là nỗi sợ hãi của đa số mẹ bầu, còn khi sinh mổ thì những cơn đau sau phẫu thuật cũng là nỗi lo lắng của không ít sản phụ. Tuy nhiên hiện nay, dịch vụ đẻ mổ không đau là lựa chọn tuyệt vời, giúp các sản phụ xua tan nỗi lo này. Vậy dịch vụ đẻ mổ không đau là thế nào và cần lưu ý những gì sau khi sinh mổ?Menu xem nhanh 11. Tìm hiểu về đẻ mổ không đau là gì?2. Các phương pháp giúp đẻ mổ không Gây tê tủy Gây tê ngoài màng cứng giúp giảm đau sau Đặt thuốc hậu môn3. Một số lưu ý cho mẹ bầu sau sinh mổ1. Tìm hiểu về đẻ mổ không đau là gì?Đẻ mổ không đau được xem là một phương pháp sử dụng thuốc giảm đau can thiệp vào quá trình chuyển dạ và sinh con của người mẹ, giúp cho người mẹ vượt qua được cơn đau vượt can dễ dàng hơn và giảm thiểu đến mức tối đa cảm giác đau đớn khi phẫu thuật. Các phương pháp sinh mổ không đau được áp dụng hiện nay đó là gây tê tủy sống, gây tê ngoài màng cứng và đặt thuốc hậu mỗi phương pháp sẽ mang hiệu quả giảm đau cho mẹ bầu ở từng giai đoạn khác nhau. Ví dụ với gây tê tủy sống sẽ giúp mẹ mất đi cảm giác đau khi bác sĩ tiến hành phẫu thuật. Tuy nhiên, khi cuộc phẫu thuật kết thúc, em bé chào đời khỏe mạnh thì mẹ sẽ tiếp tục phải đối mặt với cơn đau sau sinh do vết phẫu thuật lớn ở bụng. Cơn đau vết mổ sẽ khiến cho người mẹ có cảm giác rất đau và chỉ muốn nằm yên trên giường, không dám di chuyển hay là xoay người. Lúc này, để giúp mẹ vượt qua được cơn đau sẽ cần có sự hỗ trợ của gây tê ngoài màng cứng và quá trình gây tê này cũng được tiến hành luôn trong quá trình chuẩn bị trước khi phẫu thuật. Sau khi thuốc tê hết tác dụng, nếu như cơn đau vết mổ vẫn khiến cho người mẹ cảm thấy vô cùng khó chịu thì có thể bác sĩ sẽ chỉ định thêm đặt thuốc hậu môn cho thể thấy rằng, nhờ vào những phương pháp này đã giúp cho sản phụ xóa tan được mọi nỗi lo về cơn đau vượt cạn, giúp cho quá trình hồi phục nhanh hơn, nhu động ruột sớm hoạt động trở lại, mẹ có thể tập vận động cũng như đi lại được mổ không đau là một phương pháp sử dụng thuốc giảm đau can thiệp vào quá trình sinh con, sau sinh của người mẹ, giúp cho người mẹ vượt qua được cơn đau vượt can dễ dàng hơn2. Các phương pháp giúp đẻ mổ không đauCó 3 phương pháp giúp đẻ mổ không đau thường được áp dụng trong quá trình sinh mổ đó là gây tê tủy sống, gây tê ngoài màng cứng và đặt thuốc hậu Gây tê tủy sốngGây tê tủy sống là phương pháp giảm đau bắt buộc cần phải thực hiện trong quá trình mổ lấy thai, giúp cho sản phụ đón con yêu chào đời thành công và không có cảm giác đau trong quá trình phẫu thuật. Bác sĩ sẽ tiến thành tiêm thuốc gây tê khiến cho sản phụ mất hoàn toàn cảm giác ở nửa thân dưới, tuy nhiên đau óc vẫn tỉnh táo, nhìn thấy được, nghe thấy được và cảm nhận được từng thao tác của bác sĩ khi mổ lấy thai, chỉ là không phải trải qua cảm giác đau. Tuy nhiên, sau khi hết thuốc tê thì sản phụ vẫn phải tiếp tục đối mặt với cơn đau vết trình gây tê sẽ được tiến hành như sau Đầu tiên bác sĩ sẽ sát trùng cẩn thận ở vị trí gây tê nhằm đảm bảo vô trùng tuyệt đối, tránh tình trạng nhiễm trùng và nhiễm khuẩn. Sau đó, thuốc tê sẽ được tiêm vào vùng khoang dưới nhện, gần vị trí tủy sống của sản phụ. Thuốc tê khi được bơm vào cơ thể sẽ gây tê thần kinh, giúp giảm đau tại phần thân dưới của sản phụ, đặc biệt là tại các bộ phận liên quan trực tiếp đến quá trình sinh đẻ. Quá trình diễn ra gây tê tủy sống không gây nhiều cảm giác đau, sản phụ chỉ cảm thấy hơi nhói một chút và hoàn toàn nằm trong ngưỡng có thể chịu được. Gây tê tủy sống là phương pháp đòi hỏi người thực hiện phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao thì thuốc tê mới phát huy được hiệu quả tối đa trong thời gian sớm tê tủy sống là phương pháp giúp sản phụ mất cảm giác ở toàn bộ thân dưới và vẫn hoàn toàn tỉnh táo trong suốt quá trình mổ lấy Gây tê ngoài màng cứng giúp giảm đau sau sinhGây tê ngoài màng cứng là phương pháp giúp làm giảm cơn đau do vết mổ hoặc co dạ con cho sản phụ. Đây là kỹ thuật sử dụng thuốc tê tại chỗ để bơm vào các khoang ngoài màng cứng. Mục đích là giúp giảm đau khi thuốc tê ngấm trực tiếp vào rễ thần kinh hoặc ổ nhận cảm đặc giác đau khi thực hiện gây tê ngoài màng cứng dễ chịu hơn rất nhiều so với cơn đau gây ra bởi kim tiêm chuyền dịch hay thậm chí với một cơn co thắt tử cung khi sinh. Quá trình tiêm thuốc tê chỉ diễn ra trong vòng 5 giây và mất khoảng 15 phút để thuốc tê bắt đầu phát huy tác dụng. Với phương pháp này, sẽ giúp mẹ vượt qua được cơn đau vết mổ từ 48-72h sau khi sinh và mẹ có thể sinh hoạt, đi lại vận động cũng như cho con bú được bình gây tê ngoài màng cứng sẽ khiến cho nhiệt độ cơ thể của sản phụ tăng lên bởi tác dụng của thuốc tê gây dãn mạch máu, tuy nhiên sẽ không làm ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và bé. Thuốc tê giúp ngăn chặn tín hiệu cơn đau trước khi nó được truyền vào cột sống và đi lên não, gây ra những cơn đau sau mổ cho sản phụ. Cũng giống như gây tê tủy sống, phương pháp giảm đau sau sinh mổ bằng gây tê ngoài màng cứng cũng đòi hỏi bác sĩ gây tê phải có trình độ chuyên môn tê ngoài màng cứng có tác dụng giảm đau sau sinh từ 48-72 Đặt thuốc hậu mônSau 48 hoặc 72h khi thuốc gây tê hết tác dụng, sản phụ vẫn sẽ phải tiếp tục đối mặt với cơn đau vết mổ, tuy nhiên mức độ đau lúc này đã bắt đầu có xu hướng giảm dần và thường kết thúc khoảng 2 tuần sau sinh. Lúc này, sau khi hết thuốc tê nếu như cơ thể của sản phụ vẫn đang còn cảm thấy vô cùng khó chịu thì có thể bác sĩ sẽ chỉ định thêm đặt thuốc hậu môn. Tác dụng của thuốc đặt hậu môn có khả năng kéo dài từ 5-6 tiếng giúp mẹ có thể dễ dàng di chuyển nhẹ nhàng và đẩy nhanh quá trình hồi phục. Tuy nhiên, nhiều trường hợp mẹ bầu với cơ địa nhạy cảm có thể sẽ chịu một số tác dụng phụ như đau đầu, buồn nôn. Cho nên, các bác sĩ luôn khuyến cáo sản phụ sau sinh không nên phụ thuộc quá nhiều vào thuốc giảm đau,3. Một số lưu ý cho mẹ bầu sau sinh mổChăm sóc sản phụ sau khi sinh mổ là một việc hết sức quan trọng, bởi vì việc hồi phục sau sinh mổ sẽ thường kéo dài lâu hơn so với sinh thường, ngoài ra nguy cơ bị hậu sản cũng như nhiễm trùng cũng cao hơn. Một số lưu ý dành cho sản phụ sau sinh mổ đó là– Không nên nằm quá nhiều 24 tiếng sau khi sinh Mặc dù, sau khi sinh thì việc nghỉ ngơi tại giường là cần thiết, tuy nhiên sản dịch sẽ bị tích tụ ở tử cung. Thay vì nằm một chỗ, mẹ có thể thực hiện một vài động tác vận động nhẹ nhàng như là cố gắng trở mình, xoay người, tập ngồi dậy nhẹ nhàng để giúp khôi phục sự hoạt động của ruột, dạ dày sớm. Làm cách này sẽ giúp sản phụ tránh khỏi tình trạng bị dính ruột cũng như tắc tĩnh mạch chi.– Nên cho con bú sữa sớm để kích thích dạ con co bóp, giúp tống sản dịch ra ngoài.– Sản phụ nên nằm nghiêng thay vì nằm ngửa và kê gối chăn cao sau lưng để lưng và giường có khoảng cách 20-30 độ nghiêng, giúp vết mổ bớt đau và nhanh lành hơn.– Khi vết mổ liền da là sản phụ đã có thể tắm được rồi, không nên để một tháng như những quan niệm như trước đây. Bởi vì như thế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập, miễn sao sản phụ cố gắng không tắm nước lạnh và để cho cơ thể bị nhiễm phụ nên cho con bú sữa sớm để kích thích dạ con co bóp, giúp tống sản dịch ra thể thấy rằng, những phương pháp như đẻ mổ không đau đóng góp một phần vô cùng lớn đồng hành cùng quá trình vượt cạn với mẹ bầu. Tuy nhiên, có nhiều mẹ lo lắng rằng sau khi tiêm thuốc giảm đau vào cơ thể sẽ khiến cho cơ thể bị di chứng đau lưng sau này. Nhưng sự thật lại cho thấy rằng, cho dù mẹ không áp dụng biện pháp gì thì nguy cơ đau lưng vẫn luôn thường trực. Vậy nên, mẹ hãy yên tâm và hoàn toàn có thể sử dụng những phương pháp này vào hành trình vượt cạn của mình nhé!

các phương pháp giảm đau sau mổ